← Trở về thư viện

Bài thơ đọc ngược đọc xuôi theo 8 cách!

Tuyển tập các bài thơ đọc ngược đọc xuôi (thơ nghịch đảo - Lục chuyển hồi văn) độc đáo trong văn học Việt Nam như Cảnh xuân, Đi thuyền, Cửa sổ đêm khuya...

Mục lục bài viết14 mục

Các bài thơ đọc ngược đọc xuôi (còn gọi là thơ nghịch đảo – Lục chuyển hồi văn) là những áng thơ tuyệt tác mà đọc xuôi hay đọc ngược đều trọn vẹn ý nghĩa và niêm luật. Đặc biệt, có một bài thơ thất ngôn bát cú vô cùng kỳ lạ tựa đề “Cảnh xuân”, có thể biến hóa đọc theo 8 cách khác nhau: đọc xuôi, đọc ngược, cắt đầu, cắt đuôi từng câu mà âm hưởng vẫn tha thiết, gợi cảm.


Bài thơ "Cảnh xuân" – Đọc xuôi ngược theo 8 cách

Theo tư liệu ghi nhận, bài thơ “Cảnh xuân” do tác giả Nguyễn Vân Thiên (bút hiệu Thiện Mỹ Giang) sáng tác, được lồng vào truyện ngắn “Khai Bút Đầu Xuân” trên Tạp chí Ngàn Thông số Xuân năm 1972 (Tòa soạn chung với Tuổi Hoa: 38 Kỳ Đồng, Quận 3, Sài Gòn).

Bài thơ đọc ngược đọc xuôi theo 8 cách - Cảnh xuân

Đọc bài thơ, người yêu văn học càng thêm tự hào và khâm phục sự phong phú, tinh tế tuyệt mỹ của tiếng Việt.

Cách 1: Đọc xuôi nguyên bản (Thất ngôn bát cú)

“Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài giậu trúc cành xuân biếc
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười”.

Cách 2: Đọc ngược từ cuối lên đầu (Từ phải sang trái, từ dưới lên)

“Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược
Sóng lặng sông chờ khách lại qua
Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá
Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú
Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta”.

Cách 3: Đọc xuôi bỏ 2 từ đầu mỗi câu (Ngũ ngôn bát cú)

“Cảnh xuân ánh sáng ngời
Thơ rượu chén đầy vơi
Giậu trúc cành xanh biếc
Hương xuân sắc thắm tươi
Khách chờ sông lặng sóng
Thuyền đợi bến đông người
Tiếng hát đàn trầm bổng
Bóng ai mắt mỉm cười”.

Cách 4: Đọc ngược bỏ 2 từ cuối mỗi câu (Ngũ ngôn bát cú)

“Mắt ai bóng thướt tha
Đàn hát tiếng ngân xa
Bến đợi thuyền xuôi ngược
Sông chờ khách lại qua
Sắc xuân hương quyện lá
Cành trúc giậu cài hoa
Chén rượu thơ vui thú
Ánh xuân cảnh mến ta”.

Cách 5: Đọc ngược bỏ 3 từ đầu mỗi câu (Tứ ngôn bát cú)

“Cười mỉm mắt ai
Bổng trầm đàn hát
Người đông bến đợi
Sóng lặng sông chờ
Tươi thắm sắc xuân
Biếc xanh cành trúc
Vơi đầy chén rượu
Ngời sáng ánh xuân”.

Cách 6: Đọc xuôi bỏ 3 từ cuối mỗi câu (Tứ ngôn bát cú)

“Ta mến cảnh xuân
Thú vui thơ rượu
Hoa cài giậu trúc
Lá quyện hương xuân
Qua lại khách chờ
Ngược xuôi thuyền đợi
Xa ngân tiếng hát
Tha thướt bóng ai”.

Cách 7: Đọc xuôi bỏ 4 từ đầu mỗi câu (Tam ngôn bát cú)

“Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi
Cành xanh biếc
Sắc thắm tươi
Sông lặng sóng
Bến đông người
Đàn trầm bổng
Mắt mỉm cười”.

Cách 8: Đọc ngược bỏ 4 từ cuối mỗi câu (Tam ngôn bát cú)

“Bóng thướt tha
Tiếng ngân nga
Thuyền xuôi ngược
Khách lại qua
Hương quyện lá
Giậu cài hoa
Thơ vui thú
Cảnh mến ta”.


Các bài thơ thuận nghịch độc kinh điển khác

Trong lịch sử văn học Việt Nam, thi sĩ Hàn Mặc Tử và tiền nhân cũng để lại nhiều bài thơ nghịch đảo trứ danh.

Thi sĩ Hàn Mặc Tử

1. Đi thuyền (Hàn Mặc Tử – Lục chuyển hồi văn)

Bài thơ gốc:

Bèo trôi nước giợn sóng mênh mông
Cỏ mọc bờ xa bóng liễu trông
Chèo vững thiếp qua vời khổ hải
Chí bền chàng đến vận trung không
Theo lần nguyệt xế mây mờ mịt
Hoạ đáp thông reo trống não nồng
Neo thả biết đâu nơi định trước
Bèo trôi nước giợn sóng mênh mông.

Đọc ngược:

Mông mênh sóng giợn nước trôi bèo
Trước định nơi đâu biết thả neo
Nồng não trống reo thông đáp họa
Mịt mờ mây xế nguyệt lần theo
Không trung vận đến chàng bền chí
Hải khổ vời qua thiếp vững chèo
Trông liễu bóng xa bờ cỏ mọc
Mông mênh sóng giợn nước trôi bèo.

2. Cửa sổ đêm khuya (Hàn Mặc Tử – Lục chuyển hồi văn)

Bài thơ gốc:

Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương
Lạ cảnh buồn thêm nỗi vấn vương
Tha thướt liễu in hồ gợn sóng
Hững hờ mai thoảng gió đưa hương
Xa người nhớ cảnh tình lai láng
Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng
Qua lại yến ngàn dâu ủ lá
Hoà đàn sẵn có dế bên tường.

Đọc ngược:

Tường bên dế có sẵn đàn hòa
Lá ủ dâu ngàn yến lại qua
Bàng bẽ rượu thơ ngâm bạn vắng
Láng lai tình cảnh nhớ người xa
Hương đưa gió thoảng mai hờ hững
Sóng gợn hồ in liễu thướt tha
Vương vấn nỗi thêm buồn cảnh lạ
Gương lồng cửa rọi nguyệt cười hoa.

3. Vô đề (Vua Tự Đức – Lục chuyển hồi văn)

Bài thơ gốc:

Gương tà nguyệt xế đã ngoài song
Héo hắt sao trông quá sức trông
Thương bấy thiết tha lòng héo liễu
Nhớ thêm vàng vọ má phai hồng
Vương sầu xiết tưởng chi ngôi bắc
Đoạn thảm xui buồn vã chạnh đông
Chàng hỡi biết chăng ai bực bội
Loan hàng viết thảo tả tình chung.

Đọc ngược:

Chung tình tả thảo viết hàng loan
Bội bực ai chẳng biết hỡi chàng
Đông chạnh vã buồn xui thảm đoạn
Bắc ngôi chi tưởng xiết sầu vương
Hồng phai má vọ vàng thêm nhớ
Liễu héo lòng tha thiết bấy thương
Trông sức quá trông sao héo hắt
Song ngoài đã xế nguyệt tà gương.

4. Đền Ngọc Sơn (Khuyết danh – Lục chuyển hồi văn)

Bài thơ gốc:

Linh uy tiếng nổi thật là đây:
Nước chắn, hoa rào, một khoá mây.
Xanh biếc nước soi, hồ lộn bóng,
Tím bầm rêu mọc, đá tròn xoay.
Canh tàn lúc đánh chuông ầm tiếng,
Khách vắng khi đưa xạ ngát bay.
Thành thị tiếng vang đồn cảnh thắng,
Rành rành nọ bút với nghiên này.

Đọc ngược:

Này nghiên với bút nọ rành rành:
Thắng cảnh đồn vang tiếng thị thành.
Bay ngát xạ đưa khi vắng khách;
Tiếng ầm chuông đánh lúc tàn canh.
Xoay tròn đá mọc rêu bầm tím;
Bóng lộn hồ soi nước biếc xanh.
Mây khoá một rào hoa chắn nước,
Đây là thật nổi tiếng uy linh.

✦ Mẹo học tập

Học từng chút một, nghỉ ngơi đều đặn.